I. NGÀY TRUYỀN THỐNG CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN
1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn để đất nước rơi vào tay thực dân Pháp. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam không chỉ bị bóc lột về kinh tế mà còn chịu nỗi nhục của người dân mất nước. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và phản động tay sai ngày càng sâu sắc. Độc lập, tự do là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ cứu nước được đặt ra vô cùng cấp thiết. Các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, quyết liệt. Cuối thế kỷ XIX, phong trào Cần vương (1885 - 1896) - một phong trào đấu tranh vũ trang dưới ngọn cờ phong kiến diễn ra trong suốt 1 thập kỷ. Sang đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước tiếp thu hệ tư tưởng dân chủ tư sản xuất hiện. Lịch sử dân tộc chứng kiến những nỗ lực không mệt mỏi của cácNhun sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... Các tiền bối đã vượt qua hạn chế về nguồn gốc xuất thân (cNhưnghế độ phong kiến), tiếp thu tư tưởng mới, gắn cứu nước với cứu dân. Tuy nhiên, cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp đều thất bại. Nguyên nhân chính là do thiếu giai cấp lãnh đạo tiên tiến, thiếu khả năng tổ chức, thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn. Phong trào yêu nước ở Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng “đen tối như không có đường ra”.

Bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam xuất hiện khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời vào đầu năm 1930 dưới sự sáng lập và lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển biến căn bản trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Trước đó, mặc dù tinh thần yêu nước của nhân dân ta luôn dâng cao và nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp đã nổ ra mạnh mẽ, song các phong trào ấy vẫn chưa thể giành được thắng lợi cuối cùng do thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo thống nhất và một hệ tư tưởng cách mạng khoa học soi đường. Sự ra đời của Đảng đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, đồng thời mở ra một con đường phát triển mới cho cách mạng Việt Nam – con đường giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ khi thành lập, Đảng đã xác định rõ nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là đánh đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc và mang lại quyền làm chủ cho nhân dân lao động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân nhanh chóng phát triển mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, từ công nhân, nông dân đến trí thức, tiểu thương và các tầng lớp yêu nước khác. Những năm đầu sau khi Đảng ra đời đã chứng kiến sự bùng nổ của phong trào đấu tranh cách mạng với quy mô rộng lớn và khí thế sôi nổi.


Tiêu biểu cho cao trào cách mạng giai đoạn này là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930 - 1931). Đây là cuộc đấu tranh cách mạng mạnh mẽ của công nhân và nông dân hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Trong phong trào này, quần chúng nhân dân đã nổi dậy đấu tranh chống lại chính quyền thực dân phong kiến, thành lập các chính quyền cách mạng ở nhiều địa phương, thực hiện nhiều chính sách tiến bộ như giảm sưu thuế, chia ruộng đất cho nông dân nghèo, xây dựng đời sống mới cho nhân dân lao động. Mặc dù phong trào bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt và tạm thời thất bại, nhưng Xô viết Nghệ - Tĩnh đã trở thành minh chứng sinh động cho sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân khi được tổ chức và lãnh đạo đúng đắn, đồng thời khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Phong trào dân chủ từ 1936 đến 1939 phát triển mạnh mẽ và tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ảnh: Tư liệu.Phong trào dân chủ từ 1936 đến 1939 phát triển mạnh mẽ và tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ảnh: Tư liệu.Sau giai đoạn đấu tranh quyết liệt đầu những năm 1930, phong trào cách mạng tiếp tục phát triển trong điều kiện mới. Từ năm 1936 đến năm 1939, trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược và phương pháp đấu tranh, phát động phong trào dân chủ rộng lớn trong cả nước. Phong trào này hướng tới mục tiêu chống phát xít, chống chiến tranh, đòi các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống cho nhân dân. Hàng loạt cuộc vận động chính trị, các cuộc mít tinh, biểu tình và đấu tranh nghị trường đã diễn ra sôi nổi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia. Phong trào dân chủ không chỉ góp phần nâng cao nhận thức chính trị của nhân dân mà còn mở rộng lực lượng cách mạng, tạo tiền đề quan trọng cho những bước phát triển tiếp theo của phong trào giải phóng dân tộc.

Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng trên phạm vi toàn cầu, tình hình chính trị – xã hội tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những biến động sâu sắc. Cuộc chiến tranh giữa các cường quốc đế quốc không chỉ làm thay đổi cục diện thế giới mà còn tác động trực tiếp đến các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Thực dân Pháp vốn đang nắm quyền cai trị tại Đông Dương ngày càng suy yếu trước sức ép của chiến tranh và những biến động quốc tế. Trong bối cảnh đó, các thế lực phát xít, đặc biệt là Nhật Bản, đã tìm cách mở rộng ảnh hưởng và chiếm đóng nhiều khu vực ở châu Á nhằm phục vụ cho tham vọng bành trướng của mình.

Năm 1940, phát xít Nhật tiến quân vào Đông Dương và buộc chính quyền thực dân Pháp tại đây phải chấp nhận cho quân đội Nhật đóng quân và sử dụng Đông Dương làm căn cứ quân sự phục vụ chiến tranh. Từ thời điểm đó, nhân dân Việt Nam rơi vào tình cảnh đặc biệt đau thương khi phải chịu sự áp bức, bóc lột của hai thế lực thống trị cùng lúc: một bên là thực dân Pháp với bộ máy cai trị lâu đời, một bên là phát xít Nhật với chính sách vơ vét tàn bạo nhằm phục vụ cho chiến tranh. Tình cảnh này thường được nhân dân gọi là “một cổ hai tròng”, phản ánh rõ sự chồng chất của hai ách thống trị ngoại bang trên đất nước Việt Nam.
Nạn đói năm 1945. Ảnh: Tư liệu.Nạn đói năm 1945. Ảnh: Tư liệu.Dưới sự thống trị của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật, nền kinh tế vốn đã lạc hậu và lệ thuộc của Việt Nam lại càng bị khai thác đến kiệt quệ. Thực dân Pháp tiếp tục duy trì hệ thống sưu cao thuế nặng và bóc lột tàn nhẫn đối với nhân dân lao động, trong khi phát xít Nhật tiến hành vơ vét lương thực, nguyên liệu và nhân lực để phục vụ cho guồng máy chiến tranh của mình. Nhiều diện tích đất trồng lúa của nông dân bị buộc phải chuyển sang trồng cây công nghiệp như đay và bông để cung cấp nguyên liệu cho Nhật. Hệ thống vận tải và lương thực bị kiểm soát chặt chẽ, khiến việc lưu thông hàng hóa trở nên khó khăn, đời sống nhân dân ngày càng lâm vào cảnh thiếu thốn.
Những chính sách bóc lột tàn bạo ấy đã dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với đời sống nhân dân Việt Nam. Đỉnh điểm của sự khủng hoảng là Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam, một trong những thảm họa nhân đạo lớn nhất trong lịch sử dân tộc. Chỉ trong một thời gian ngắn, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu người dân vô tội, chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Hình ảnh những đoàn người đói khát lang thang khắp nơi, những xác người chết đói nằm bên đường, trên bờ ruộng hay trước cửa chợ đã trở thành nỗi ám ảnh đau thương trong ký ức của cả dân tộc. Đây không chỉ là hậu quả của thiên tai mà chủ yếu là do chính sách bóc lột và vơ vét tàn nhẫn của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với nhân dân Việt Nam.
Chính trong hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt ấy, tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam càng được hun đúc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nỗi căm phẫn trước sự áp bức, bóc lột của các thế lực xâm lược đã trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh giành lại quyền sống, quyền tự do và quyền làm chủ vận mệnh của mình. Khát vọng độc lập dân tộc, khát vọng thoát khỏi ách thống trị của ngoại bang đã lan rộng trong mọi tầng lớp xã hội, từ công nhân, nông dân đến trí thức và các tầng lớp yêu nước khác. Tất cả đã tạo nên một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ, chuẩn bị những điều kiện quan trọng cả về tinh thần và lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền sau này.
Đầu năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến hết sức nhanh chóng và mang tính quyết định đối với vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, cục diện chiến tranh nghiêng hẳn về phía phe Đồng minh, các nước phát xít lần lượt lâm vào thế thất bại. Những biến động to lớn của tình hình quốc tế đã tác động trực tiếp đến khu vực Đông Dương, làm cho bộ máy cai trị của các thế lực thực dân và phát xít tại đây rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Đây chính là tiền đề quan trọng tạo ra thời cơ thuận lợi cho phong trào cách mạng ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

Toàn quyền Đông Dương Đờ Cu đón tướng Nhật sau ngày Nhật đảo chính PhápToàn quyền Đông Dương Đờ Cu đón tướng Nhật sau ngày Nhật đảo chính PhápNgày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật bất ngờ tiến hành cuộc Đảo chính Nhật – Pháp tại Đông Dương năm 1945, lật đổ hoàn toàn bộ máy thống trị của thực dân Pháp vốn đã tồn tại ở Đông Dương suốt nhiều thập kỷ. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, toàn bộ hệ thống chính quyền của thực dân Pháp bị tan rã, nhiều quan chức và binh lính Pháp bị bắt giữ hoặc buộc phải đầu hàng. Sau cuộc đảo chính này, phát xít Nhật độc chiếm Đông Dương và dựng lên một chính quyền bù nhìn nhằm phục vụ cho mục đích thống trị và khai thác của mình. Tuy nhiên, do đang ở giai đoạn suy yếu của chiến tranh, chính quyền Nhật tại Đông Dương không đủ khả năng kiểm soát chặt chẽ tình hình như trước. Bộ máy cai trị trở nên rệu rã, quyền lực thực tế ở nhiều địa phương bị suy giảm nghiêm trọng.
Trước tình hình mới đó, phong trào cách mạng Việt Nam đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh, chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước đã nhanh chóng được triển khai rộng khắp trong cả nước. Các lực lượng cách mạng được củng cố và phát triển, nhiều căn cứ cách mạng được xây dựng, lực lượng quần chúng ngày càng được tổ chức chặt chẽ và sẵn sàng cho cuộc đấu tranh giành chính quyền. Tinh thần đấu tranh của nhân dân ngày càng dâng cao, tạo nên một khí thế cách mạng sôi nổi trên khắp các vùng miền của đất nước.
Đến tháng 8 năm 1945, tình hình thế giới tiếp tục có những biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam. Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường, ngày 15/8/1945, phát xít Nhật chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Sự kiện này đã làm cho chính quyền tay sai của Nhật tại Đông Dương hoàn toàn rơi vào tình trạng tê liệt, tạo ra một khoảng trống quyền lực lớn trong toàn bộ hệ thống chính trị. Trong khi đó, các thế lực thực dân cũ chưa kịp quay trở lại, còn bộ máy cai trị của Nhật thì mất khả năng điều hành xã hội. Đây chính là thời điểm đặc biệt thuận lợi cho cách mạng Việt Nam tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Nắm bắt đúng thời cơ lịch sử “ngàn năm có một”, Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh đã kịp thời đưa ra quyết định phát động Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 trên phạm vi toàn quốc. Lời hiệu triệu của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhanh chóng được nhân dân cả nước hưởng ứng mạnh mẽ. Từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến đồng bằng, hàng triệu quần chúng nhân dân đã nhất tề đứng lên đấu tranh giành chính quyền. Chỉ trong một thời gian ngắn, chính quyền cách mạng đã lần lượt được thiết lập ở nhiều địa phương, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Có thể nói rằng, những chuyển biến to lớn của tình hình quốc tế và trong nước vào đầu năm 1945 đã tạo ra thời cơ đặc biệt thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chí Minh, cùng với tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh mạnh mẽ của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam đã tận dụng thành công thời cơ lịch sử để đứng lên giành lại chính quyền, mở đường cho sự ra đời của nhà nước mới – nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn của tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã diễn ra với khí thế sôi nổi và lan rộng khắp cả nước. Từ các thành thị lớn đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, hàng triệu quần chúng nhân dân đã đồng loạt đứng lên tham gia khởi nghĩa, giành chính quyền về tay mình. Trong bầu không khí cách mạng dâng cao, các cuộc biểu tình, mít tinh và nổi dậy của quần chúng diễn ra liên tiếp, làm cho bộ máy chính quyền tay sai của phát xít Nhật nhanh chóng sụp đổ.
Nhân dân tham gia mít tinh và biểu tình tại quảng trường Nhà hát Lớn.Ảnh: Tư liệu. Nhân dân tham gia mít tinh và biểu tình tại quảng trường Nhà hát Lớn.Ảnh: Tư liệu. Tại Hà Nội, ngày 19 tháng 8 năm 1945, hàng chục vạn nhân dân đã xuống đường tham gia mít tinh và biểu tình tại quảng trường Nhà hát Lớn, sau đó tiến hành chiếm giữ các cơ quan quan trọng của chính quyền cũ, đánh dấu thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở thủ đô. Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trên phạm vi toàn quốc. Ngay sau đó, phong trào khởi nghĩa tiếp tục lan rộng và giành thắng lợi ở nhiều địa phương khác. Tại Huế, trung tâm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, nhân dân và lực lượng cách mạng đã giành chính quyền vào ngày 23/8/1945, buộc triều đình phong kiến phải tuyên bố thoái vị, chấm dứt hàng nghìn năm chế độ quân chủ ở Việt Nam. Tiếp đó, ngày 25/ 8/1945, chính quyền cách mạng cũng được thiết lập tại Sài Gòn và nhiều tỉnh thành khác ở Nam Bộ. Chỉ trong vòng nửa tháng, chính quyền cách mạng đã được thành lập ở hầu khắp các địa phương trên cả nước, đánh dấu thắng lợi trọn vẹn của cuộc tổng khởi nghĩa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Cuộc cách mạng đã lật đổ hoàn toàn ách thống trị của thực dân và chế độ phong kiến tồn tại trong nhiều thập kỷ, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước kỷ nguyên độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân. Từ đây, nhân dân Việt Nam không còn là những người dân mất nước phải sống dưới ách áp bức của ngoại bang, mà đã trở thành những người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Đây cũng là thắng lợi của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, của truyền thống yêu nước bất khuất và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, nhiệm vụ cấp bách đặt ra là phải nhanh chóng tuyên bố nền độc lập của dân tộc trước toàn thể nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào từ khắp mọi miền đất nước tụ họp về thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước toàn thể quốc dân và thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập”. Bản tuyên ngôn lịch sử không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam mà còn thể hiện ý chí sắt đá của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập ấy.
Chính quyền cách mạng vừa ra đời lập tức phải đối diện với tình thế vô cùng hiểm nghèo: Bộ máy thống trị cũ tuy bị đánh đổ nhưng lực lượng phản cách mạng chưa bị quét sạch; các đảng phái phản động, tay sai, mật thám, lưu manh chính trị còn nhiều; thù trong, giặc ngoài cấu kết; bộ máy nhà nước mới còn non trẻ; nền tài chính kiệt quệ; nạn đói, nạn dốt đe dọa; quân Tưởng kéo vào miền Bắc, thực dân Pháp âm mưu quay trở lại. Trong tình thế đó, việc nhanh chóng thành lập một lực lượng đủ sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự là một yêu cầu cấp bách mang tính sống còn.
Đập tan các cơ quan đàn áp của địch và thiết lập chính quyền cách mạng trong cả nước, các tổ chức đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân đã ra đời ở cả ba miền. Theo các tài liệu chính thức của Bộ Công an, ở Bắc Bộ thành lập Sở Liêm phóng Bắc Bộ; ở Trung Bộ thành lập Sở Trinh sát Trung Bộ; ở Nam Bộ thành lập Quốc gia tự vệ cuộc Nam Bộ. Đây là những tổ chức Công an đầu tiên của Nhà nước cách mạng Việt Nam, được thành lập phù hợp với điều kiện lịch sử, chính trị và tổ chức của từng miền, nhưng đều có chung nhiệm vụ là bảo vệ chính quyền cách mạng, trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân. Ở giai đoạn này, dù chưa có tên gọi thống nhất trên phạm vi cả nước, song về thực chất, đó chính là những tổ chức đầu tiên của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Việc hình thành đồng thời các tổ chức đó ở ba miền cho thấy chính quyền cách mạng ngay từ đầu đã nhận thức rất rõ tầm quan trọng của công tác an ninh, trật tự và chủ động xây dựng lực lượng chuyên trách làm nhiệm vụ ấy.

Đội Tự vệ đỏ ở Hòa Quân, Đông Sở, Nghệ An trong cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh năm 1930

Sự ra đời của Sở Liêm phóng, Sở Trinh sát và Quốc gia tự vệ cuộc có ý nghĩa hết sức to lớn. Một mặt, nó đáp ứng yêu cầu tức thời của chính quyền cách mạng non trẻ là phải có lực lượng đủ năng lực trấn áp phản cách mạng, bảo vệ cơ quan Đảng, chính quyền, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các địa bàn trọng yếu. Mặt khác, về lâu dài, đó là bước khởi đầu của quá trình hình thành một lực lượng vũ trang cách mạng mang tính nhà nước, có chức năng đặc biệt trong việc giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Điều này càng có ý nghĩa khi ta thấy rằng ngay lúc ấy, đất nước ta chưa có đủ điều kiện để xây dựng một bộ máy hoàn chỉnh, nhưng chính quyền cách mạng vẫn ưu tiên tổ chức lực lượng công an bởi an ninh chính trị và trật tự xã hội là điều kiện tiên quyết để giữ vững chính quyền. Như vậy, ngay trong phút đầu của Nhà nước cách mạng, lực lượng Công an nhân dân đã được đặt đúng vị trí là một lực lượng trọng yếu trong bộ máy quyền lực của nhân dân.
Sắc lệnh số 23/SL, hợp nhất các lực lượng cảnh sát và liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ Ảnh: Tư liệu. Sắc lệnh số 23/SL, hợp nhất các lực lượng cảnh sát và liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ Ảnh: Tư liệu. Lực lượng Công an cách mạng phát triển bền vững, không chỉ cần có các tổ chức sơ khai ở ba miền mà còn cần có một cơ sở pháp lý, một mô hình tổ chức thống nhất trên phạm vi cả nước. Thực tiễn đấu tranh cuối năm 1945 và đầu năm 1946 cho thấy, nếu không sớm thống nhất về tổ chức, chỉ huy và chức năng nhiệm vụ, thì lực lượng sẽ khó đáp ứng yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng trong bối cảnh tình hình ngày càng phức tạp. Trên cơ sở đó, ngày 21/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 23/SL, hợp nhất các lực lượng cảnh sát và liêm phóng thành Việt Nam Công an vụ, đặt dưới quyền quản lý của Bộ Nội vụ. Đây là một bước ngoặt có ý nghĩa rất quan trọng, bởi từ đây lực lượng Công an cách mạng được xác lập thành một tổ chức thống nhất về mặt tên gọi và hệ thống quản lý ở cấp trung ương.

Ảnh: Nghị định số 121-NgĐ ngày 18/4/1946 của Bộ Nội Vụ.
Ngày 18/4/1946, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 121-NV/NĐ về tổ chức Việt Nam Công an vụ. Theo nghị định này, bộ máy Công an được tổ chức thành ba cấp: Công an Việt Nam ở trung ương, Công an kỳ ở Bắc, Trung, Nam và Công an tỉnh ở địa phương. Một số tài liệu của Bộ Công an diễn giải cụ thể hơn: ở Trung ương gọi là Nha Công an Việt Nam, ở Bắc, Trung, Nam gọi là Sở Công an, còn ở tỉnh là Ty Công an. Đây là văn bản pháp lý có ý nghĩa nền tảng trong lịch sử ra đời và phát triển của Công an nhân dân Việt Nam, vì lần đầu tiên lực lượng Công an được quy định một cách tương đối đầy đủ về cơ cấu tổ chức, sự chỉ huy và phạm vi hoạt động trên phạm vi cả nước. Có thể nói, nếu như thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của các tổ chức Sở Liêm phóng, Sở Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc là bước ra đời trong thực tiễn, thì Sắc lệnh 23/SL và Nghị định 121-NV/NĐ là sự xác lập về mặt pháp lý, tổ chức và nhà nước đối với lực lượng CAND Việt Nam.
Sự kiện ban hành Sắc lệnh số 23/SL và Nghị định số 121-NV/NĐ không chỉ có giá trị về mặt hành chính, mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp bảo vệ Nhà nước cách mạng. Từ đây, lực lượng Công an nhân dân có điều kiện phát triển theo hướng chính quy hơn, có sự chỉ huy thống nhất hơn và có cơ sở để mở rộng hoạt động trên toàn quốc. Trong điều kiện cả nước chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược trở lại, việc có một lực lượng công an thống nhất là cực kỳ quan trọng để bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, bảo vệ cơ quan đầu não, bảo vệ bí mật quốc gia, đấu tranh chống phản động, gián điệp, phá hoại và giữ gìn trật tự trong vùng tự do cũng như vùng mới giải phóng. Nhờ có nền tảng tổ chức ấy, Công an nhân dân mới có thể đồng hành cùng toàn dân, toàn quân bảo vệ thành quả cách mạng trong những năm tháng đầy thử thách tiếp theo.
Khi viết về sự ra đời của Công an nhân dân, cũng cần nhấn mạnh rằng trong lòng lực lượng Công an cách mạng ngay từ buổi đầu đã hàm chứa những nội dung rất cốt lõi của công tác an ninh. Ngay từ Sở Liêm phóng, Sở Trinh sát hay Quốc gia tự vệ cuộc, nhiệm vụ bảo vệ chính trị, nắm tình hình phản động, chống gián điệp, trấn áp phản cách mạng, bảo vệ cơ quan Đảng và chính quyền đã là nhiệm vụ trung tâm. Chính từ thực tiễn ấy, lực lượng An ninh nhân dân về sau được hình thành như một bộ phận nòng cốt, trực tiếp chiến đấu trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia. Nói cách khác, sự ra đời của Công an nhân dân chính là cái nôi tổ chức, cái nền lịch sử và pháp lý để lực lượng An ninh nhân dân ra đời, trưởng thành và phát triển. Vì thế, muốn hiểu đúng về sự ra đời của lực lượng An ninh nhân dân, trước hết phải hiểu đầy đủ bối cảnh lịch sử, các tổ chức tiền thân và tiến trình ra đời của Công an nhân dân Việt Nam.

Lực lượng Liêm phóng và Cảnh sát tự vệ Bắc Bộ bảo vệ lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Ảnh tư liệu
Nhìn từ toàn bộ tiến trình lịch sử, có thể thấy rõ một logic rất chặt chẽ. Từ sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, cách mạng Việt Nam có lực lượng lãnh đạo và đường lối đúng đắn; từ đó hình thành các tổ chức quần chúng và bán vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ phong trào; thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đặt ra yêu cầu phải xây dựng ngay bộ máy chuyên trách bảo vệ chính quyền cách mạng; các tổ chức Sở Liêm phóng, Sở Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc ra đời ở ba miền là bước phát triển trực tiếp; tiếp đến Sắc lệnh 23/SL ngày 21/2/1946 và Nghị định 121-NV/NĐ ngày 18/4/1946 hoàn thiện bước đầu về mặt pháp lý và tổ chức. Toàn bộ tiến trình đó chứng minh rằng Công an nhân dân Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử, vừa bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa là kết quả của tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ cách mạng.
Các thế hệ hôm nay thấy rõ rằng lực lượng Công an nhân dân không sinh ra trong hòa bình, càng không ra đời để đảm nhiệm những công việc hành chính đơn thuần, mà xuất hiện từ những đòi hỏi khốc liệt nhất của cách mạng Việt Nam: phải bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân ngay trong lúc vận mệnh dân tộc ở vào tình thế vô cùng hiểm nghèo. Vì vậy, trong bản chất của mình, Công an nhân dân là lực lượng của Đảng, của Nhà nước, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu. Chính cội nguồn lịch sử ấy tạo nên truyền thống tuyệt đối trung thành, mưu trí, dũng cảm, kiên quyết tiến công, dựa vào dân và gắn bó máu thịt với dân của lực lượng suốt 80 năm qua.
Các tổ chức tiền thân và sự ra đời của Công an nhân dân không chỉ là phần mở đầu về lịch sử tổ chức, mà còn là phần có ý nghĩa nền tảng về nhận thức. Nó giúp đặt đúng vị trí của lực lượng Công an nhân dân trong tiến trình cách mạng Việt Nam; làm rõ rằng lực lượng này ra đời từ yêu cầu khách quan của việc giành và giữ chính quyền cách mạng; đồng thời chỉ ra cội nguồn hình thành của các lực lượng chuyên trách bên trong Công an nhân dân, trong đó có lực lượng An ninh nhân dân. Chính từ nền tảng ấy, các lực lượng của Công an nhân dân mới từng bước phát triển, lớn mạnh, lập nên nhiều chiến công xuất sắc trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân.
Nếu kể từ ngày 1-9-1858, khi thực dân Pháp chính thức nổ súng mở đầu xâm lược nước ta tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến ngày 2-9-1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, đất nước ta đã trải qua 87 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Đó là quãng thời gian Việt Nam bị nước ngoài đô hộ dài nhất kể từ năm 938, khi Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lược Nam Hán, khôi phục nền độc lập. Trong thời kỳ thuộc địa, chủ quyền đất nước đã mất, tên nước không còn trên bản đồ thế giới, lẫn vào địa danh “xứ Đông Dương thuộc Pháp”. Tổ quốc bị chia thành ba miền với ba chế độ chính trị khác nhau để thực dân Pháp dễ bề cai trị. Các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh đòi độc lập, quyền tự chủ cho đất nước đều bị dìm trong bể máu. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy đã khẳng định tầm vóc vĩ đại, giá trị vô cùng to lớn của cuộc hồi sinh nền độc lập, tự do của dân tộc mà Cách mạng Tháng Tám là mốc son chói lọi. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn. Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô... Trong tình cảnh nước mất nhà tan đó, Đảng ta đã vượt biết bao hy sinh, nguy hiểm để tổ chức, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta nổi lên chiến đấu. Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng của mình. Tên tuổi của nước ta lại lẫy lừng khắp năm châu, bốn biển”.
2. SỰ RA ĐỜI CỦA LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN NGÀY 12/7/1946

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dân trong cả nước đã tích cực góp gạo cứu đói cho đồng bào. Ảnh: Tư liệu. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người dân trong cả nước đã tích cực góp gạo cứu đói cho đồng bào. Ảnh: Tư liệu. Sự kiện lịch sử ngày 2/9/1945 đã chính thức khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Đây là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, được xây dựng trên nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử dân tộc Việt Nam mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều quốc gia thuộc địa trên thế giới.
Khi chính quyền cách mạng vừa được thành lập, đất nước ta phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thử thách. Nhà nước cách mạng còn rất non trẻ, nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và áp bức, trong khi đó các thế lực phản động trong và ngoài nước không ngừng tìm cách chống phá nhằm lật đổ chính quyền mới thành lập. Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải nhanh chóng xây dựng một lực lượng chuyên trách có đủ bản lĩnh, trí tuệ và lòng trung thành tuyệt đối để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân.

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra ngày 2/3/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. (Ảnh tư liệu)
Ở Bắc Bộ, quân đội Trưởng Giới Thạch ngay khi đặt chân đến Hà Nội đã ngang nhiên chiếm quyền giữ gìn trật tự, trị an; chiếm đóng các địa điểm quan trọng, kiểm soát các cửa ô lớn ra vào thành phố; giúp Việt quốc, Việt cách củng cố tổ chức, phát triển cơ sở, tập hợp lực lượng chống phá chính quyền cách mạng.
Để tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện sách lược tạm thời hòa hoãn với quân đội Trung Hoa Dân Quốc theo khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”, tập trung chống thực dân Pháp xâm lược. Ở những nơi có quân đội Trung Hoa Dân Quốc đóng, ta thành lập “Ban Liên lạc Việt Hoa”. Lực lượng Liêm phóng, Trinh sát nhiều nơi đã cử cán bộ tham gia Ban này để nắm tình hình và hòa giải khi có việc rắc rối giữa quân đội Trung Hoa Dân Quốc với ta.

Lực lượng cảnh sát hộ tống đoàn xe chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên chính phủ lâm thời tiến vào Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Tư liệu. Lực lượng cảnh sát hộ tống đoàn xe chở Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên chính phủ lâm thời tiến vào Quảng trường Ba Đình. Ảnh: Tư liệu. Lực lượng Liêm phóng Bắc Bộ và Trinh sát Trung Bộ đã cùng các ngành, đoàn thể cứu quốc vạch trần âm mưu của phản động tay sai, nghiêm khắc lên án những hành động bắt cóc, tống tiền, giết người của chúng ở Hà Nội và các nơi khác. Đồng thời sử dụng các biện pháp quản lý công khai, trinh sát bí mật, kịp thời ngăn chặn, bắt một số cầm đầu đảng phái phản động, tay sai của Pháp, như: Nguyễn Xuân Chữ, cầm đầu bù nhìn trong “Ủy ban Chính trị”; Cung Đình Vận, Tuần phủ Thái Nguyên; Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn, thủ lĩnh Quốc dân đảng và Đại Việt quốc gia. Ngày 20/11/1945, lực lượng Liêm phóng Kiến An, có sự hỗ trợ của Cảnh sát xung phong Hải Phòng, đã trấn áp phản động Việt Nam Quốc dân đảng ở nhà Bảo Hương, bắt 43 tên, thu 24 súng, đập tan âm mưu gây bạo loạn. Cuối năm 1945, Liêm phóng Bắc Bộ ngăn chặn kịp thời hoạt động phá hoại của Quốc dân đảng ở Ngân hàng Đông Dương.

Nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ Nhân dân vốn đã khó khăn lại càng khó khăn bội phần khi lực lượng còn quá mỏng, nghiệp vụ đánh địch còn đơn giản. Nhưng thế hệ cán bộ, chiến sĩ đầu tiên của lực lượng An ninh nhân dân đã vượt qua hoàn cảnh khó khăn, dựa vào Nhân dân; sau gần một năm kiên trì đấu tranh, đã khéo léo vận dụng pháp luật, trấn áp nhiều tổ chức phản động manh động chống chính quyền, bắt và trừng trị nhiều tay sai chỉ điểm, từng bước vô hiệu hoá hoạt động chống phá của các thế lực nội phản câu kết với giặc ngoại xâm. Kết quả đó đã góp phần từng bước đây lùi âm mưu của các thế lực nội phản; phá vỡ thế liên kết giữa thù trong với giặc ngoài; tạo điều kiện để Chính phủ triển khai những chính sách mới, củng cố chính quyền cơ sở, nâng cao một bước đời sống vật chất và giác ngộ chính trị cho Nhân dân.
Ngay sau khi nền độc lập được tuyên bố, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh và Đảng, các tổ chức bảo vệ an ninh cách mạng đã nhanh chóng được hình thành và từng bước củng cố. Trong những ngày đầu của chính quyền cách mạng, nhiều tổ chức tiền thân của lực lượng an ninh như Sở Liêm phóng, Sở Cảnh sát, các Ban trinh sát đặc biệt và các tổ chức bảo vệ chính quyền ở địa phương đã được thành lập. Nhiệm vụ chủ yếu của các lực lượng này là phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với các hoạt động chống phá của các tổ chức phản cách mạng, bảo vệ an toàn cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đồng thời giữ gìn trật tự, ổn định xã hội trong bối cảnh tình hình chính trị còn rất phức tạp.
Trong giai đoạn đầu của chính quyền cách mạng, các thế lực phản động trong nước cấu kết với các thế lực bên ngoài đã ra sức thực hiện nhiều âm mưu phá hoại, gây rối loạn chính trị, kích động bạo loạn và âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân. Chúng lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước để tuyên truyền chống phá, tổ chức các hoạt động gián điệp, khủng bố và kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Trước tình hình đó, lực lượng bảo vệ an ninh cách mạng tuy còn non trẻ, thiếu thốn về lực lượng, phương tiện và kinh nghiệm, nhưng với tinh thần cách mạng kiên cường, tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân, các cán bộ, chiến sĩ đã nhanh chóng tổ chức đấu tranh, từng bước làm thất bại nhiều âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
Một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành và trưởng thành của lực lượng an ninh là chiến công khám phá và triệt phá Vụ án Ôn Như Hầu năm 1946. Ngày 12 tháng 7 năm 1946, lực lượng công an cách mạng đã phát hiện và đập tan âm mưu đảo chính của các tổ chức phản động, thu giữ nhiều tài liệu và chứng cứ quan trọng chứng minh những hoạt động chống phá chính quyền cách mạng. Chiến công này không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc chính quyền non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sự trưởng thành nhanh chóng của lực lượng bảo vệ an ninh cách mạng. Từ sự kiện này, ngày 12 tháng 7 hằng năm được xác định là Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân.

Trụ sở Quốc dân đảng ở số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội), nơi ta tìm thấy 6 xác người bị chúng thủ tiêu
và nhiều dụng cụ tra tấn khác. Ảnh: Tư liệu
Trong những ngày đầu lập quốc, khi Hà Nội còn chìm trong không khí căng thẳng của năm 1946, lực lượng An ninh nhân dân, với tinh thần thép và bản lĩnh kiên cường, bất ngờ phong tỏa số 7 phố Ôn Như Hầu, nay là phố Nguyễn Gia Thiều. Chỉ trong vài giờ, lực lượng An ninh nhân dân triệt phá thành công âm mưu đảo chính của các đảng phái phản động với sự hậu thuẫn từ các thế lực thù địch, đế quốc bên ngoài, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt. Hơn 300 đối tượng bị bắt giữ, hàng chục súng ngắn, lựu đạn, hàng trăm truyền đơn kêu gọi lật đổ chính quyền, cùng tài liệu mật liên kết với quân Tưởng và thực dân Pháp bị thu giữ. Những bằng chứng tội ác như dụng cụ tra tấn và bảy xác chết chôn sau sân nhà được phơi bày, hé lộ sự tàn bạo của những kẻ phản bội khát vọng độc lập dân tộc. Chiến thắng ấy là cột mốc vàng son trong lịch sử lực lượng An ninh nhân dân, minh chứng rực rỡ cho bản lĩnh, trí tuệ, và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong thời khắc hiểm nghèo. Hơn bảy thập kỷ trôi qua, khi Việt Nam vươn mình mạnh mẽ giữa cơn lốc địa chính trị toàn cầu, di sản 12/7/1946 vẫn tỏa sáng, soi đường cho công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia và xây dựng đất nước hùng cường.
Bối cảnh lịch sử của vụ án Ôn Như Hầu
Hậu Thế chiến thứ hai, thế giới rơi vào trạng thái hỗn loạn, với các cường quốc như Mỹ, Anh, Pháp, và Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch tranh giành ảnh hưởng để tái định hình trật tự toàn cầu. Đông Dương, trong đó có Việt Nam, trở thành tâm điểm của những toan tính địa chính trị. Thỏa ước Yalta và Hội nghị Potsdam 7/1945 phân chia Đông Nam Á vào phạm vi kiểm soát của phe Đồng minh, đẩy Việt Nam vào vòng xoáy của các thế lực ngoại bang. Quân đội Tưởng Giới Thạch, với hơn 180.000 quân, tràn vào miền Bắc Việt Nam, danh nghĩa giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất nhằm thiết lập một chính quyền tay sai, phục vụ lợi ích của Trung Hoa Dân Quốc. Quân Tưởng tổ chức các cuộc biểu tình và tuần hành tại Hà Nội, phối hợp với các đảng phái phản động để gây áp lực, tạo cớ lật đổ chính quyền cách mạng. Ở miền Nam, quân Anh, với sự hậu thuẫn ngầm của Mỹ, hỗ trợ thực dân Pháp tái chiếm Nam Kỳ, dập tắt ngọn lửa cách mạng vừa nhen nhóm.

Trong bối cảnh ấy, 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Bác Hồ, với tầm nhìn chiến lược và ý chí bất khuất, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu bước ngoặt lịch sử đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ bước lên vị thế độc lập.
Trụ sở của Việt Nam Quốc dân đảng tại nhà số 132 Bùi Thị Xuân. Ảnh: Tư liệu.Trụ sở của Việt Nam Quốc dân đảng tại nhà số 132 Bùi Thị Xuân. Ảnh: Tư liệu.Nhưng chính quyền cách mạng non trẻ đối mặt với muôn vàn thử thách, tựa như ngọn đèn trước gió. Ở miền Bắc, quân Tưởng uy hiếp trực tiếp, ép buộc Việt Minh nhượng bộ, chia sẻ quyền lực với các đảng phái phản động như Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Đồng Minh Hội (Việt Cách). Các đảng phái này, được Tưởng hậu thuẫn về tài chính và vũ khí, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, lập ra một chính phủ thân ngoại bang. Ở miền Nam, 23/9/1945, quân Pháp, được quân Anh - Ấn hỗ trợ, dùng vũ lực lật đổ chính quyền Việt Minh tại Sài Gòn, mở đầu cho cuộc tái xâm lược tàn bạo. Giữa muôn vàn khó khăn, nhân dân Hà Nội vẫn một lòng hướng về Bác Hồ và Việt Minh, tụ họp đông đảo tại các cuộc mít-tinh, giương cao cờ đỏ sao vàng, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào chính quyền cách mạng. Sự đoàn kết ấy là nền tảng vững chắc cho những chiến thắng lịch sử, trong đó có vụ án Ôn Như Hầu.

Trong “Bình Ngô Đại cáo”, Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã có câu: “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Thật vậy, khi vận mệnh dân tộc tựa như “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chủ tịch đã thể hiện bản lĩnh ngoại giao phi thường. Quyết định ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, dù gây tranh cãi, là một nước cờ táo bạo để loại bỏ quân Tưởng - mối đe dọa trực tiếp hơn - đồng thời kéo dài thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Quyết định này đòi hỏi sự đánh đổi lớn lao, khi Bác Hồ đối mặt với những lời vu khống từ các đảng phái phản động, cáo buộc Người “bán nước”!? Trong một khoảnh khắc kịch tính, 7/3/1946, trước 100.000 đồng bào Hà Nội, một quả lựu đạn nổ ngay trên bục tam cấp trước khi Hồ Chủ tịch bước tới micro. Với sự kiên định, Người khẳng định: “Tôi thà chết chứ quyết không bán nước”. Lời tuyên bố ấy lay động lòng dân, củng cố niềm tin mãnh liệt vào chính quyền cách mạng, dập tan những luận điệu xuyên tạc.
Nhà số 7 tại phố Ôn Như Hầu. Ảnh: Tư liệu Nhà số 7 tại phố Ôn Như Hầu. Ảnh: Tư liệu Chính trong bối cảnh rối ren ấy, âm mưu đảo chính tại số 7 phố Ôn Như Hầu bùng nổ như một mối đe dọa trực tiếp. Âm mưu này, được chuẩn bị từ cuối 1945, do các thế lực phản động, được quân Tưởng hậu thuẫn và phối hợp ngầm với thực dân Pháp, dự định lợi dụng 14/7/1946, ngày Quốc khánh Pháp, để ném lựu đạn vào quân Pháp đang diễu binh tại Hà Nội, tạo cớ cho Pháp tấn công các cơ quan trung ương, bắt giữ lãnh đạo Việt Minh, và dựng lên một chính phủ thân ngoại bang. Âm mưu này không chỉ nhằm lật đổ chính quyền mà còn là sự thách thức trắng trợn đối với khát vọng độc lập của dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp, lực lượng An ninh nhân dân, dù mới thành lập với nguồn lực hạn chế, đã thể hiện năng lực tình báo và phản gián xuất sắc. Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, với sự quyết đoán và tầm nhìn chiến lược, trực tiếp chỉ đạo chuyên án, đảm bảo hành động nhanh gọn, chính xác. Qua nhiều tháng theo dõi sát sao, lực lượng An ninh nhân dân, với sự nhạy bén và cảnh giác cách mạng, thu thập được những chứng cứ xác thực, từ danh sách đối tượng đến các kế hoạch chi tiết.

Đội trinh sát đặc biệt, đơn vị chủ chốt trấn áp bọn phản động Quốc dân đảng ngày 12-7-1946. Ảnh: Tư liệu.
Sáng 12/7/1946, lực lượng An ninh phong tỏa 41 điểm tại Hà Nội, bắt giữ hơn 300 đối tượng, bao gồm Phan Kích Nam - Bí thư đệ nhất khu của Việt Quốc. Chỉ 48 giờ trước khi quân Pháp diễu binh, âm mưu đảo chính bị đập tan, các đảng phái phản động tan rã, nhiều kẻ tháo chạy sang Trung Quốc. Chiến thắng này bảo vệ chính quyền cách mạng, khẳng định vai trò của lực lượng An ninh nhân dân như “lá chắn thép” của dân tộc, đặt nền móng cho Ngày truyền thống An ninh nhân dân - 12/7.
Di sản lịch sử đối với an ninh quốc gia trong thời đại mới
Chiến thắng 12/7/1946 là minh chứng rực rỡ cho bản lĩnh ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người tận dụng mâu thuẫn giữa các cường quốc để bảo vệ chính quyền non trẻ. Tinh thần ấy là kim chỉ nam cho Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay. Giữa một thế giới đầy biến động, xung đột Nga - Ukraine làm gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng và lương thực, đẩy Việt Nam vào thách thức duy trì ổn định kinh tế, trong khi căng thẳng Iran - Israel gây lo ngại về an ninh khu vực Trung Đông, ảnh hưởng đến thị trường dầu mỏ toàn cầu. Việt Nam, với chính sách đối ngoại “cây tre Việt Nam” - mềm dẻo nhưng kiên cường - khéo léo cân bằng quan hệ với các cường quốc, tận dụng thời cơ để vươn lên. Việc tham gia các hiệp định thương mại như CPTPP và RCEP, củng cố vai trò trong ASEAN, và thúc đẩy hợp tác với các nước láng giềng như Thái Lan, Campuchia trong giải quyết hòa bình các tranh chấp biên giới, thể hiện bản lĩnh ngoại giao kế thừa từ Hồ Chủ tịch. Bất ổn ở Bangladesh, với các cuộc biểu tình và rối loạn chính trị gần đây, nhắc nhở rằng sự ổn định chính trị, “giữ vững bên trong” là yếu tố then chốt để phát triển. Việt Nam, với lịch sử vượt qua những thử thách như 12/7/1946, hiểu rõ giá trị của đoàn kết dân tộc và sự linh hoạt trong bối cảnh biến động khu vực và toàn cầu.

Mệnh lệnh sự vụ liên quan vụ án “Ôn Như Hầu”. (Ảnh tư liệu)
Sự kiện 12/7/1946 còn là bài học sống động về sự nguy hiểm của các thế lực thù địch và phản động, được hậu thuẫn từ bên ngoài, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Lực lượng An ninh nhân dân, với sự nhạy bén và cảnh giác cách mạng, đã ngăn chặn thành công một thảm họa chính trị, bảo vệ nền độc lập non trẻ. Bước vào kỷ nguyên số, khi các mối đe dọa an ninh mang những hình thái mới, bài học này càng trở nên cấp thiết. Các thế lực thù địch không ngừng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “cách mạng màu”, kích động phá rối an ninh, bạo loạn, khủng bố, và các hoạt động phá hoại nhằm gây mất ổn định chính trị và chia rẽ nội bộ. Chiến tranh mạng, thông tin sai lệch trên mạng xã hội, và gián điệp công nghệ trở thành những thách thức toàn cầu. Xung đột Nga - Ukraine cho thấy vai trò của chiến tranh thông tin trong việc định hình dư luận, trong khi bất ổn ở các nước trong khu vực phản ánh nguy cơ từ các chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, kích động bạo lực. Như tinh thần Tổng Bí thư Tô Lâm quán triệt tại Hội nghị toàn quốc ngày 18/5/2025, theo đó, chúng ta cần phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí cách mạng, và sự cảnh giác cao độ, biến những thách thức thành cơ hội để đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ, bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, với truyền thống cách mạng được hun đúc từ 12/7/1946, tiếp tục nâng cao năng lực bảo vệ an ninh quốc gia, ngăn chặn từ sớm, từ xa các âm mưu “diễn biến hòa bình” và “cách mạng màu”, chiến tranh mạng, đảm bảo sự ổn định cho đất nước giữa những cơn lốc địa chính trị.

Ảnh: Tư liệu
Chiến thắng 12/7/1946 là kết quả của sự đoàn kết sắt son giữa Đảng, chính quyền, và nhân dân. Niềm tin của quần chúng vào Việt Minh, cùng sự lãnh đạo tài tình của Bác Hồ đã tạo nên sức mạnh vượt qua những thử thách tưởng chừng không thể. Trong kỷ nguyên vươn mình, khi Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu đang từng bước vững chắc vươn lên với tham vọng trở thành trung tâm công nghiệp và công nghệ của khu vực, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường càng trở nên quan trọng. Giữa những biến động toàn cầu, từ gián đoạn chuỗi cung ứng do các xung đột Nga – Ukraine, căng thẳng Iran - Israel, đến cuộc đua công nghệ AI và 5G, Việt Nam đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục, khoa học công nghệ, và các ngành chiến lược như sản xuất chip bán dẫn, đồng thời thúc đẩy năng lượng tái tạo để giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Tinh thần tự lực, tự cường, được hun đúc từ những ngày tháng khó khăn 12/7/1946, đang giúp Việt Nam viết nên những trang sử mới, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Ngay từ những ngày đầu thành lập, lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam đã đảm nhận một sứ mệnh đặc biệt quan trọng: bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và giữ vững nền độc lập, chủ quyền của đất nước. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng cũng vô cùng vẻ vang. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, chiến tranh và thù địch luôn rình rập, các cán bộ, chiến sĩ an ninh đã phải hoạt động trong hoàn cảnh hết sức gian khổ, thậm chí phải chấp nhận hy sinh thầm lặng để bảo vệ sự bình yên của Tổ quốc.
Từ những tổ chức ban đầu còn rất đơn sơ, lực lượng An ninh nhân dân đã không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Qua các thời kỳ lịch sử, từ kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống đế quốc Mỹ cho đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hòa bình, lực lượng an ninh luôn là lực lượng nòng cốt trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ an ninh đã lập nên nhiều chiến công xuất sắc trong đấu tranh phòng, chống gián điệp, phản động, bảo vệ bí mật quốc gia, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
II. Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH NGÀY TRUYỀN THỐNG LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN
Thứ nhất, Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng sâu sắc, là dấu mốc lịch sử quan trọng ghi nhận sự ra đời và quá trình phát triển của một lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt trong hệ thống bảo vệ an ninh quốc gia của Đảng và Nhà nước. Việc xác lập ngày truyền thống không chỉ có ý nghĩa tôn vinh lịch sử hình thành của lực lượng an ninh mà còn khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của lực lượng này trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Khối nữ học viên An ninh nhân dân
Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, sự ra đời của lực lượng an ninh gắn liền với yêu cầu khách quan của nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự thành lập của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong bối cảnh chính quyền cách mạng vừa được thiết lập, đất nước đứng trước nhiều nguy cơ từ các thế lực phản động trong và ngoài nước, việc xây dựng một lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trở thành nhiệm vụ cấp thiết mang tính chiến lược. Sự hình thành của lực lượng an ninh thể hiện tầm nhìn đúng đắn của Đảng trong việc xây dựng công cụ bảo vệ chế độ, bảo đảm sự ổn định chính trị – yếu tố nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước cách mạng.
Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam là sự ghi nhận quá trình trưởng thành liên tục của lực lượng an ninh qua các giai đoạn lịch sử của đất nước. Từ những tổ chức ban đầu còn đơn giản về tổ chức, hạn chế về lực lượng và phương tiện, lực lượng an ninh đã từng bước được củng cố, hoàn thiện và phát triển thành lực lượng chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, nghiệp vụ sắc bén, giữ vai trò nòng cốt trên mặt trận đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng lực lượng an ninh luôn đi đầu trong phát hiện, đấu tranh và làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ thành quả cách mạng và tạo môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển của đất nước.

Ý nghĩa tư tưởng của ngày truyền thống thể hiện ở giá trị giáo dục sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng an ninh nhân dân. Việc ôn lại truyền thống vẻ vang của lực lượng giúp củng cố bản lĩnh chính trị, nâng cao nhận thức về sứ mệnh và trách nhiệm trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia. Qua đó khẳng định nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và chiến đấu của lực lượng an ninh: tuyệt đối trung thành với Đảng, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Ngày truyền thống vì vậy không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa chính trị lâu dài đối với sự nghiệp bảo vệ chế độ. Sự trưởng thành và phát triển vững mạnh của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng chính trị của Nhà nước, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, bảo đảm sự ổn định của hệ thống chính trị và sự trường tồn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây chính là giá trị cốt lõi làm nên ý nghĩa chính trị, tư tưởng sâu sắc của Ngày truyền thống lực lượng an ninh nhân dân.
Thứ hai, Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam thể hiện sự ghi nhận sâu sắc và trân trọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những cống hiến to lớn của lực lượng an ninh trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều gắn liền với những nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và ổn định xã hội hết sức nặng nề. Lực lượng an ninh nhân dân luôn giữ vai trò tuyến đầu trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng chính trị của chế độ, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng và bảo vệ lợi ích căn bản của quốc gia, dân tộc. Việc xác lập Ngày truyền thống vì vậy mang ý nghĩa tôn vinh những đóng góp bền bỉ, thầm lặng nhưng có giá trị đặc biệt quan trọng của lực lượng an ninh đối với sự nghiệp cách mạng.

Khối nam Sỹ quan An ninh nhân dân trong lễ diễu binh A50
Trải qua hơn tám mươi năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành kể từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam đã không ngừng được củng cố và phát triển, từng bước hoàn thiện về tổ chức, nâng cao về bản lĩnh chính trị và trình độ nghiệp vụ. Trong mọi hoàn cảnh, lực lượng an ninh luôn chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Thực tiễn lịch sử cho thấy, ở bất kỳ thời kỳ nào, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia cũng gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ sự ổn định của hệ thống chính trị. Lực lượng an ninh nhân dân đã thực hiện hiệu quả vai trò nòng cốt trên mặt trận này, góp phần quan trọng giữ vững môi trường chính trị – xã hội ổn định, tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nước.
Ý nghĩa của Ngày truyền thống cũng thể hiện ở việc khẳng định những thành tựu to lớn mà lực lượng an ninh đã đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia. Bằng tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ, phương pháp công tác khoa học và sự kiên quyết trong đấu tranh, lực lượng an ninh đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu chống phá từ bên ngoài cũng như từ bên trong. Nhiều hoạt động gián điệp, phá hoại, kích động gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc đã bị phát hiện và xử lý nghiêm minh, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng chính trị của Nhà nước và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Những thành tựu đó không chỉ phản ánh bản lĩnh chính trị vững vàng, sự mưu trí, sắc bén của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, mà còn thể hiện sự hy sinh thầm lặng của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ an ninh Tổ quốc. Chính sự cống hiến bền bỉ đó đã góp phần quan trọng làm thất bại mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch nhằm gây mất ổn định chính trị và tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ ba, việc xác định ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống cách mạng, ý chí kiên cường, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng An ninh nhân dân, để qua đó góp phần tăng cường, củng cố vững chắc niềm tin, lòng trung thành của lực lượng An ninh nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Những hoạt động như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ nghiệp vụ, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Khối Sỹ quan An ninh nhân dân. Ảnh: VOV Khối Sỹ quan An ninh nhân dân. Ảnh: VOV Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước, lực lượng An ninh nhân dân đã không ngừng trưởng thành, vượt qua nhiều thử thách khắc nghiệt để hoàn thành sứ mệnh bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chính vì vậy, việc xác định Ngày truyền thống không chỉ đơn thuần là một dấu mốc kỷ niệm, mà còn là phương thức quan trọng để giáo dục truyền thống, giúp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ hơn về quá trình hình thành, chiến đấu và phát triển của lực lượng. Qua đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ càng thêm trân trọng những hy sinh, đóng góp của các thế hệ đi trước, đồng thời nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc tiếp nối và phát huy truyền thống vẻ vang đó.
Bên cạnh ý nghĩa giáo dục truyền thống, Ngày truyền thống An ninh nhân dân còn góp phần khơi dậy niềm tự hào nghề nghiệp và tình cảm cách mạng sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ. Công tác an ninh vốn là lĩnh vực đặc thù, nhiều nhiệm vụ diễn ra trong thầm lặng và đòi hỏi sự kiên trì, bản lĩnh cũng như tinh thần trách nhiệm rất cao. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ, chiến sĩ phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách, thậm chí có lúc phải hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của đất nước. Chính vì vậy, việc thường xuyên nhắc nhớ về truyền thống vẻ vang của lực lượng sẽ giúp mỗi cán bộ, chiến sĩ thêm vững vàng về tư tưởng, thêm tự hào về nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. Ngày truyền thống còn là nguồn động lực tinh thần to lớn để bồi dưỡng và nâng cao ý chí kiên cường, tinh thần dũng cảm cho toàn lực lượng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, các âm mưu và hoạt động chống phá ngày càng tinh vi, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với lực lượng an ninh.
Thông qua việc giáo dục truyền thống và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, Ngày truyền thống cũng góp phần củng cố niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối của lực lượng An ninh nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sự quản lý của Nhà nước. Đồng thời, đó cũng là cơ sở để tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa lực lượng an ninh với nhân dân nguồn sức mạnh to lớn giúp lực lượng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Có thể nói rằng, Ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân không chỉ là dịp để ôn lại những trang sử vẻ vang mà còn là một hình thức giáo dục chính trị, tư tưởng sâu sắc, góp phần xây dựng lực lượng ngày càng vững mạnh về bản lĩnh, tư tưởng và tinh thần trách nhiệm. Từ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ sẽ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của lực lượng, nỗ lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu và kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Thứ tư, hàng năm thông qua tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống của lực lượng An ninh nhân dân, Công an các đơn vị, địa phương đánh giá, tổng kết những thành tựu đã đạt được và chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong công cuộc bảo vệ an ninh tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.

Khối sỹ quan nam An ninh nhân dân
Thông qua các hoạt động kỷ niệm, lực lượng An ninh ở các đơn vị, địa phương có điều kiện đánh giá một cách toàn diện những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế, thiếu sót còn tồn tại để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình công tác trong thời gian tiếp theo. Việc tổng kết, đánh giá kết quả công tác thông qua các dịp kỷ niệm Ngày truyền thống có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của lực lượng. Qua quá trình nhìn lại những thành tựu đã đạt được, các đơn vị có thể khẳng định những phương pháp, cách làm hiệu quả cần tiếp tục phát huy; đồng thời phát hiện những vấn đề còn hạn chế để kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Bên cạnh việc tổng kết thực tiễn, Ngày truyền thống còn là dịp để các đơn vị trong Công an nhân dân Việt Nam xác định rõ hơn mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn phát triển. Từ những bài học kinh nghiệm rút ra trong thực tiễn công tác, lực lượng An ninh nhân dân có thể xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, đồng thời chủ động ứng phó với những thách thức mới trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp.
Thông qua các hoạt động tổng kết, đánh giá và định hướng phát triển, lực lượng An ninh nhân dân có thể đề ra những mục tiêu và giải pháp thiết thực nhằm xây dựng lực lượng ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. Đây cũng là yêu cầu tất yếu để lực lượng đáp ứng tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới.
III. NHỮNG DANH HIỆU, PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ MÀ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC ĐÃ TẶNG THƯỞNG CHO LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN


Trải qua chặng đường xây dựng, chiến đấu và trưởng thành đầy gian khổ nhưng cũng hết sức vẻ vang, lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam đã lập nên nhiều chiến công đặc biệt xuất sắc, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và cuộc sống bình yên của nhân dân. Những cống hiến to lớn, thầm lặng mà bền bỉ ấy không chỉ được khẳng định trong thực tiễn lịch sử, mà còn được ghi nhận bằng những danh hiệu cao quý, những phần thưởng cao nhất do Đảng và Nhà nước trao tặng. Đây không chỉ là sự tôn vinh đối với những thành tích đặc biệt xuất sắc, mà còn là minh chứng sinh động cho lòng trung thành tuyệt đối, tinh thần mưu trí, dũng cảm và sự hy sinh to lớn của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Ghi nhận những thành tích xuất sắc của lực lượng An ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều danh hiệu, phần thường cao quý cho các tập thể, cá nhân thuộc lực lượng An ninh nhân dân: Huân chương Sao Vàng tặng lực lượng An ninh nhân dân (1996), Tổng cục An ninh (2006), Lực lượng Bảo vệ chính trị (2008), Học viện An ninh nhân dân (2011)...; Huân chương Hồ Chí Minh tặng Tổng cục An ninh (1985), Tổng cục An ninh 1 (2011), Tổng cục An ninh II (2011), Lực lượng Ngoại tuyến (2009), Lực lượng Điều tra (2011), Lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ (2009, 2010).., nhiều tập thể được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân: Lực lượng An ninh nhân dân (2001), Tiểu ban Bảo vệ chính trị thuộc Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam (2005), Cục Kỹ thuật nghiệp vụ (1985, 2011, 2015), Cục Ngoại tuyến (2010, 2025), Cục An ninh kinh tế (2013), Cục An ninh chính trị nội bộ (2013), Cục Quản lý xuất nhập cảnh (2013), Tổng cục An ninh (2016), Cục An ninh Điều tra (2020), Cục An ninh đối ngoại (2025), Cục An ninh mạng (2025)...




Tổng cục An ninh được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, ngày 12/7/2006. Ảnh: Bộ Công anTổng cục An ninh được tuyên dương Anh hùng LLVTND, ngày 12/7/2016Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gắn Huân chương Sao Vàng lên lá cờ truyền thống của Học viện An ninh nhân dân.Ảnh: Chinhphu.vnTổng Bí thư Tô Lâm gắn Huân chương Hồ Chí Minh lên Lá cờ truyền thống của lực lượng Tình báo CAND.Ảnh: Công an nhân dân


Thừa ủy quyền, Bộ trưởng Lương Tam Quang gắn và trao Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất tặng Cục Viễn thông và Cơ yếu. Ảnh: Công an nhân dânTổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tặng Văn phòng Bộ Công an.Ảnh: Công an nhân dân
SỰ QUAN TÂM CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ BỘ CÔNG AN
VỚI LỰC LƯỢNG AN NINH NHÂN DÂN
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy phải dựa vào nhân dân, không được xa rời nhân dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học viên Công an Khóa Tổng phản công tại Chiến khu Việt Bắc, tháng 4/1950



Đồng chí Lê Duẫn – Bí thư thứ Nhất ban Chấp hành Trung ương Đảng nói chuyện tại Hội nghị Công an toàn quốc
lần thứ 17, tháng 2/1963

Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng phát biểu tại Hội nghị Tổng kết Phong trào Bảo vệ ANTQ 1975 - 1979 do Bộ Nội vụ tổ chức, năm 1979


Đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các đồng chí Lê Giản, Lê Hữu Qua, Nguyễn Tài tại buổi tọa đàm về Vụ án ở số 7 phố Ôn Như Hầu - Hà Nội, tháng 3/1995.Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam, năm 1987.

















































